Lược Sử Thôi Miên

Thôi miên đã có từ bao giờ? Ai phát hiện hay phát minh ra nó?Thôi miên đã có từ bao giờ? Ai phát hiện hay phát minh ra nó?Thực ra thôi miên đã xuất hiện từ khi có mặt loài người từ thuở hồng hoang (dreamtime), khi con người có những giấc mơ và biết mơ mộng. Trạng thái xuất thần như thôi miên là một trạng thái hết sức bình thường mà ai cũng đã từng trải nghiệm. Những nền văn hóa cổ xưa trên thế giới đã từng ghi lại dấu tích của trạng thái xuất thần này như: Hy Lạp, Ai Cập, Ấn Độ v.v. Họ sử dụng những bài hát, bài tụng, những điệu trống và những điệu nhảy múa để chuyển hóa các trạng thái tinh thần. Những điều này thường liên quan đến tôn giáo hoặc một cách trị liệu nào đó.• Những tài liệu cổ xưa nhất như Ebers Papyrus, một tài liệu y khoa ở Ai Cập, xuất hiện vào khoảng 1550 trước công nguyên, đã ghi lại đến 700 thủ thuật để trị liệu bệnh tật. Thậm chí còn mô tả rất chính xác hệ thống tuần hoàn của tim mạch. Tài liệu còn diễn tả một nhà trị liệu đặt một bàn tay lên trán bệnh nhân và truyền qua một siêu năng lực giúp bệnh nhân khỏi bệnh. Người Ai Cập xây dựng cả những đền thờ ‘ru ngủ’ nữa. Những nhà tu ở đó cũng trị bệnh bằng những phương pháp tương tự.
• Vào khoảng 2600 năm trước công nguyên, tổ sư Đông y, Wong Tai (Hoa Đà?) đã từng nói về những kỹ thuật đặt tay lên trán bệnh nhân để chữa bệnh. Những tài liệu khác cũng diễn tả những cách thức chữa bệnh tương tự bằng tay như trong Cựu Ước, tài liệu Talmud của Do Thái, kinh Phệ Đà của Ấn Độ vào khoảng 1500 năm trước công nguyên.
• Một vài linh mục của đạo Kito đã tuyên truyền và ảnh hưởng tiêu cực đến sinh hoạt thôi miên lúc bấy giờ, vì cho đó là những sinh hoạt phù thủy, Satan. Thế nhưng trong tài liệu ‘The religious aspects of hypnosis’ (1962) lại có những đoạn nói về chúa Giesu đã sử dụng thôi miên để thực hiện những phép lạ của ngài.
• Linh mục Gassner, vào khoảng thế kỷ 18, cho rằng sở dĩ người ta bị bệnh là do tà ma xâm nhập. Ông dùng một cây gậy có hình thập tự chạm vào bệnh nhân khiến bệnh nhân ngã xuống. Tim mạch đều ngưng lại và được xem như đã chết. Ông ra lệnh cho ma quỷ rời khỏi xác và bệnh nhân sống lại.
• Ngoài những truyền thuyết có tính huyền thoại lúc đầu, những bước ngoặc đáng kể để thôi miên hình thành như một khoa học hiện đại, được nghiên cứu như ngày nay, phải kể đến công sức đóng góp của các nhà tiên phong, trải qua chiều dài lịch sử thôi miên gần 300 năm, với nhiều khúc quanh cam go nhưng đầy sáng tạo.
• Franz Anton Mesmer (1734 – 1815), một y sĩ người Áo, đã hình thành một lý thuyết mà ông gọi là ‘animal magnetism’ tức là ‘điện từ trường của thú vật’ ngày nay được gọi là ‘nhân điện’. Điện ở đây là điện của nam châm. Sau đó đổi lại theo tên của ông là ‘Mesmerism’. Ông cho rằng bệnh tật là do những dòng chảy vô hình trong cơ thể vốn đã có sẵn điện từ trường đột nhiên bị cắt đứt hoặc không được bố trí một cách quân bình do tác động trọng lực từ các hành tinh di chuyển trong vũ trụ.
Năm 1778 ông đến Paris để giảng dạy và hành nghề. Giới y sĩ lúc bấy giờ cho ông là một thứ lang băm lừa bịp. Họ thành lập một hội đồng nghiên cứu cách thức trị liệu của Mesmer và những người theo ông. Họ kết luận rằng ‘dòng chảy từ trường vô hình’ không có thực. Họ giải thích rằng sở dĩ bệnh nhân cảm thấy hết bệnh chỉ là do sự tưởng tượng của họ mà thôi. Tương tự tác dụng của ‘giả dược’ (placebo) ngày nay. Nhưng thực tế thì khác hẳn.
• Marquis De Puyseger, một ‘tín đồ’ theo Mesmer, phát hiện ra một trạng thái ‘xuất thần’ mà ông gọi là ‘Tượng mộng’ tương tự như nằm mộng (Somnabulism) Nhiều nơi dịch là ‘mộng du’. Thực ra mộng du là một trạng thái khác hẳn, khác luôn cả ‘miên hành’. Ông không nhắc đến trạng thái khủng hoảng khi trị liệu bệnh nhân như Mesmer mà phát hiện ra một trạng thái thư giãn sâu lắng. Chữ ‘Somnabulism’ tôi dịch theo tính chất của trạng thái đó là ‘Nhập thần’ là trạng thái sâu thẳm nhất của ba trạng thái xuất thần trong thôi miên. Hai trạng thái đầu là xuất thần nhẹ và xuất thần sâu.• Giữa thế kỷ 19, một bác sĩ người Tô Cách Lan, James Braid, lúc đầu cũng là một nhà nhân điện. Ông phân tích sự khác nhau giữa thôi miên và giấc ngủ. Thôi miên hoàn toàn không phải là ngủ mà là sự chú tâm cao độ trong trạng thái thư giãn thật sâu. Thôi miên hơi giống ‘một giấc ngủ chập chờn’ gây ra bởi sự mệt mỏi do quá tập trung sự chú tâm vào một vật thể chiếu sáng, di động. Giấc ngủ thôi miên là một phản ứng tâm sinh lý của đối tượng được thôi miên, chứ nhà thôi miên không hề có một năng lực siêu nhiên gì cả. Ông trải qua nhiều thí nghiệm và hoàn toàn bác bỏ lý thuyết cho rằng thôi miên có liên quan đến dòng chảy thần bí hoặc dưới ‘quyền lực’ của nhà thôi miên trên đối tượng mình. Có lẽ sự đóng góp đáng kể nhất của ông vào lĩnh vực thôi miên là nhận ra thôi miên là một trạng thái có thể được nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học. Ông đã thành công trong nhiều trị liệu về các bệnh tê liệt, phong thấp và câm. Ông cũng quan tâm đến vấn đề tâm lý khủng hoảng và sợ hãi.
• Cũng vào thời điểm đó, James Esdaile, một bác sĩ Tô Cách Lan, làm việc ở Ấn Độ, đã sử dụng thôi miên như là một liệu pháp gây tê / gây mê trong những ca phẫu thuật lớn. Kể cả những ca tháo khớp (cắt bỏ tay chân). Ông thực hiện khoảng 200 ca phẫu thuật sử dụng thôi miên thay cho liệu pháp gây tê / gây mê thông thường.
• John Elliotson, một bác sĩ Anh quốc đã cổ động cho việc sử dụng thôi miên trong y học. Năm 1849, ông thành lập một bệnh viện nhân điện (Mesmeric). Ông là một trong những giảng viên đầu tiên ở Luân Đôn nhấn mạnh tầm quan trọng của trị liệu lâm sàng. Ông cũng là người sáng chế ra ống nghe để nghe tim phổi bệnh nhân (Stethoscope). Ông thực hiện đến 1834 ca phẫu thuật sử dụng thôi miên, đưa bệnh nhân vào trạng thái xuất thần khi tiến hành phẫu thuật. Ông phát hành tập san thôi miên đầu tiên mang tên Zoist, chuyên đề về thôi miên.
• Jean Martin Charcot, một bác sĩ thần kinh Pháp. Vào cuối thập niên 1800, ông thực hiện nhiều thí nghiệm đáng kể. Ông nhận thấy thôi miên có thể giúp điều trị được nhiều chứng bệnh thần kinh. Phòng mạch chuyên trị các chứng bệnh về thần kinh đã tạo uy tín lớn trong giới y học và khoa học thời bấy giờ. Trong đó có cả sự quan tâm của nhà tâm lý học người Áo nổi tiếng Alfred Binet, và cha đẻ của ngành Phân tâm học hiện đại, Sigmund Freud.
• Vào cuối thập niên 1800, hai bác sĩ Pháp, Hyppolyte Bernheim và Ambroise Auguste Liebeault đã khám phá ra vai trò quan trọng của những lời thôi miên có tính cách khơi dẫn (suggestion/induction). Họ đã chữa trị cho hơn 12.000 bệnh nhân. Họ cho rằng thôi miên không liên quan gì đến vấn đề tâm sinh lý của bệnh nhân mà là sự đáp ứng tâm lý với những lời khơi dẫn của nhà thôi miên.
• Liebeault, một trong những kiện tướng của thôi miên, đã nới rộng biên giới của thôi miên, vượt qua ngưỡng cửa gây tê, gây mê. Ông tinh thông thủ pháp thôi miên ‘tức thời’ (instant hypnosis). Ông còn nhận ra rằng khi thôi miên không nhất thiết phải đặt bệnh nhân chìm vào trạng thái xuất thần sâu lắng (Trance). Và hiếm khi ông phải mất quá 15 phút với một bệnh nhân.
• Lúc đó nhiều kỹ thuật thôi miên đã ra đời và được phổ biến rộng rãi. Nhưng kỹ thuật của ông lại rất đơn giản. Ông chỉ cần đưa một bàn tay qua mặt bệnh nhân và nói ‘ngủ đi’ (sleep) là bệnh nhân nhập ngay vào trạng thái thôi miên.
• Charcot thì ngược lại. Ông tạo ra tiếng chiêng trống rùm beng, ánh sáng chớp nháy …
• Weinhold, và Heidenhain thì sử dụng tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ.
• Berger dùng một cái đĩa ấm bằng kim loại. …
• Purkinje và Spitt cho rằng gõ nhẹ vào trán cũng gây nên cảm giác buồn ngủ đối với nhiều người. Đong đưa võng cũng là cách khiến trẻ con cảm thấy buồn ngủ. Eisenhart nói rằng khều nhẹ trên trán cũng là cách thôi miên trẻ con một cách hữu hiệu.
• Hirt thường dùng điện để thôi miên.
• Freud rất hứng thú với cách thức của Charcot và Berheim. Lúc đầu ông sử dụng thôi miên trong việc nghiên cứu khi ông bắt đầu khai triển học thuyết Phân tâm học, nhưng sau đó ông lại phủ nhận và từ bỏ nó vì áp lực của hội đồng y khoa. Đến gần cuối đời ông quay lại quan điểm lúc đầu về thôi miên.
• Joseph Breuer, một bác sĩ và một nhà sinh lý học người Áo, là một trong những nhà tiên phong trong lĩnh vực Phân tâm học. Vào năm 1880, một nữ bệnh nhân bị chứng kích động. Ông dùng thôi miên để tìm ra những nguyên nhân thầm kín gây ra chứng kích động ở cô này và hóa giải chúng. Ông còn trị được hàng loạt nhiều chứng bệnh khác của cô này chỉ bằng cách khơi lại được những nguyên nhân thầm kín trong quá khứ qua thôi miên. Một điều lý thú là cô ấy bị mắc chứng không thể uống nước bằng ly. Qua thôi miên Breuer đưa cô trở về quá khứ và cô thổ lộ rằng khi còn nhỏ cô chứng kiến một con chó liếm nước uống trong cái ly. Từ đó cô bị ám ảnh không thể uống nước bằng ly nữa. Breuer đã hóa giải nổi ám ảnh đó qua thôi miên. Sau khi thức dậy, cô xin ngay một ly nước và uống hết một hơi như chưa từng có chuyện gì xảy ra hay như chưa từng bị ám ảnh.
• Năm 1880, Pierre Janet xác định được sự hỗ tương giữa tâm lý học lý thuyết và trị liệu lâm sàng đối với các chứng bệnh tâm thần. Ông nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của thôi miên. Ông đóng góp rất nhiều trong lĩnh vực tâm thần liên quan đến chứng lo âu bồn chồn, nỗi ám ảnh sợ hãi và những ứng xử bất thường.
• Năm 1891, Hiệp Hội Y Khoa Anh Quốc đã tỏ ra rất ấn tượng về việc sử dụng thôi miên trong y khoa.
• Milton H Erickson, đã phát huy một kỹ thuật thôi miên mới bằng cách phối hợp kỹ thuật nghiên cứu với lâm sàng. Ông là bậc thầy trong kỹ thuật thôi miên trực tiếp. Ông có thể đưa một người vào trạng thái thôi miên mà đương sự không hề biết. Ông được xem như là người gầy dựng nên ngành thôi miên hiện đại.
• Những nghiên cứu của Ernest và Josephine Hilgard cho chúng ta thêm những hiểu biết về cơ chế tạo nên cảm giác đau.
• Năm 1949, hiệp hội thôi miên đầu tiên trên thế giới ‘the Society of Clinical and Experimental Hypnosis’ được thành lập ở Hoa Kỳ. Chỉ 10 năm sau trở thành một hiệp hội quốc tế với các thành viên ở khắp nơi trên thế giới. Vào thập niên 1950, cả hai hội đồng y khoa Hoa Kỳ và Anh đều công nhận thôi miên là một phương cách trị liệu hữu hiệu được ứng dụng trong y khoa và nha khoa.
Nhiều năm sau ngành tâm lý học mới được công nhận.
Ngày nay, thôi miên nhiều khi còn được áp dụng trong các trường hợp phá án. Trong cơn khủng hoảng nạn nhân thường không nhớ được gì hết, nhưng với kỹ thuật thôi miên sẽ nhớ lại đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất như bảng số xe, những đặc điểm trên gương mặt hung thủ v.v. Mọi việc như đang diễn lại trong tiềm thức và nạn nhân sống lại những cảm xúc kinh hoàng, sợ hãi, lo lắng giống y hệt như vào lúc bấy giờ.