Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy (LTNNTD) Neuro Linguistic Programming (NLP)

1. GIỚI THIỆU.
Nếu bộ môn ‘Nhân điện’ được xem như tiền thân của thôi miên thì bộ môn ‘Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy’ (LTNNTD) được xem như hậu thân của thôi miên, bởi vì nó phát sinh từ thôi miên, cụ thể là thôi miên của Milton H. Erickson.

Nhóm từ ‘Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy’ được tổng hợp từ ba nhóm từ:
• Lập Trình (programming): Não bộ chuyển hóa các tín hiệu thành những thông tin hữu ích, dựa theo kinh nghiệm trước đó.
• Ngôn Ngữ (linguistic): Nói về nội dung bằng lời nói hay ngôn ngữ cơ thể.
• Tư Duy (neuro): Não bộ, hệ thống thần kinh, tế bào thần kinh tiếp nhận, lưu trữ và truyền đạt thông tin.

Bộ môn LTNNTD do John Grinder và Richard Bandler thành lập vào thập niên 1970 ở California. Grinder là giáo sư ngôn ngữ học của đại học University of California ở Santa Cruz, còn Bandler là sinh viên ngành triết học và tâm lý học ở đó.

Nguyên lý của LTNNTD dựa trên kinh nghiệm và cảm nhận tác động trực tiếp đến phản ứng của ta khi tiếp xúc với ngoại giới.

Thí dụ: Tôi sợ rắn. Khi tôi thấy rắn hay nghe âm thanh nào giống như rắn bò sẽ khiến tôi sợ hãi. Một người thích rắn thì có thể âu yếm nó, cho nó bò lên cổ một cách thích thú; ngược lại, đối với tôi là một sự kinh hoàng. Cả hai đều cùng nhìn thấy một thứ. Cùng một thứ tín hiệu được não tiếp thu, là hình ảnh con rắn. Nhưng não bộ của mỗi người tiếp nhận bằng thái độ khác nhau dựa trên kinh nghiệm ‘xấu / tốt’ trước đó.

Hai ông muốn bắt chước cách hành xử của người thành công. Điều gì đã khiến những người này đạt hiệu quả cao. Họ nghiên cứu cách người thành công giao tiếp thế nào (ngôn ngữ, động tác cơ thể, ánh mắt nhìn và nhiều thứ khác). Từ đó họ thiết lập cách tư duy giúp bất cứ ai muốn thành công như những người đã thành công. Họ lý luận rằng não bộ có thể học các khuôn mẫu ứng xử tác động tích cực đến tâm sinh lý của đối tượng. Họ quan sát những người có nền giáo dục, nhân thân, kinh nghiệm sống tương tự nhau nhưng sự thành tựu trong đời lại rất khác biệt nhau. Họ muốn tìm hiểu lý do nào tạo nên sự khác biệt đó.

Cơ bản của LTNNTD là ngôn ngữ ta sử dụng phản ánh nội tâm từ tiềm thức. Nếu những ngôn ngữ và sự nhận thức sai lạc sẽ tạo ra nhiều vấn đề tiềm ẩn. Nhà LTNNTD trị liệu sẽ phân tích từng lời từng chữ của ‘ngôn ngữ’ đối tượng sử dụng để xác định các triệu chứng ảnh hưởng đến sức khỏe. Họ quan sát các biểu cảm trên gương mặt đối tượng. Khi đã xác định được vấn đề, nhà trị liệu sẽ giúp đối tượng hiểu nguyên nhân tận gốc rễ, từ đó tái ‘lập trình’ cách ‘tư duy’ để đạt được sự thành tựu như mong muốn. LTNNTD giúp đối tượng vượt qua và thay đổi sự tiêu cực trong suy nghĩ bằng sự tích cực.

2. CƠ CHẾ CỦA LTNNTD
‘Niềm hy vọng’ là tài sản lớn nhất của chúng ta. Khi một người đánh mất niềm tin vì những chứng bệnh nan y như ung thư hay AIDS, thì cơ thể cũng buông tay đầu hàng. Nếu đối tượng có thể nhìn vấn đề một cách tích cực thì vấn đề sẽ khác hẳn. Lúc đó cái khả năng tự điều trị của cơ thể sẽ tự điều chỉnh một cách tốt nhất.

LTNNTD dựa vào một số ‘phỏng định’ (presupposition) như:
• Khuôn mẫu phụ (meta model)
• Giác quan nhạy bén (sensory acuity)
• Khuôn mẫu Milton (Milton model)
• Hệ thống LTNNTD (system representation)
• Ngũ giác (submodalities)
• Sự phỏng định (presupposition).

Sự phỏng định là niềm tin mà đối tượng cảm thấy cần thiết để thay đổi chính mình. Thí dụ:
1. Sự giao tiếp bao gồm nhiều thứ hơn là chỉ những gì được nói ra.
2. Không ai sai cả. Ai cũng đều cố gắng đạt lấy thành tựu của mình.
3. Mọi người đều có đủ những thứ cần thiết để thành công.
4. Mọi ứng xử đều có ý tích cực bên trong.
5. Mọi ứng xử đều hữu ích theo cách nào đó.
6. Ý nghĩa của sự giao tế là những gì mình thu đạt được.
7. Nếu không đạt được những gì mình mong muốn thì hãy làm cách khác.
8. Không có gì gọi là ‘thất bại’ cả. Tất cả chỉ là ‘kinh nghiệm’.
9. Có sự chọn lựa, dù ít ỏi, còn hơn là không có gì cả.
10. Trong mọi hệ thống, yếu tố uyển chuyển nhất có tác động lớn nhất.
11. Bản đồ không phải là chính địa hạt đó.
12. Người khác làm được thì mình cũng làm được.
13. Trong giao tiếp không hề và không thể có sự thất bại.

3. HỆ THỐNG LTNNTD.
Hệ thống LTNNTD bao gồm năm giác quan:
• Nhìn /Hình ảnh (Visual)
• Nghe / Âm thanh (Auditory)
• Xúc chạm / cảm nhận (Kinesthetic)
• Nếm / vị (Gustatory)
• Ngửi /mùi (Olfactory)

LTNNTD chia người ta ra thành 3 khuynh hướng giác quan:
• Nhìn /Hình ảnh (Visual)
• Nghe / Âm thanh (Auditory)
• Xúc chạm / cảm nhận (Kinesthetic)

Hai giác quan còn lại:
• Nếm / vị (Gustatory)
• Ngửi /mùi (Olfactory)
Được nhập chung với Xúc chạm / cảm nhận (Kinesthetic).

Chúng ta dùng 5 giác quan để tiếp nhận thông tin và chuyển qua não bộ. Thí dụ: Bắt gặp một con chó chết bên đường. Mắt tiếp nhận hình ảnh và chuyển qua não. Mũi tiếp nhận mùi và chuyển qua não. Nếu là mùi hôi thúi thì não sẽ chiếu theo kinh nghiệm cũ là từng nhìn thấy một con chó chết lâu ngày đang bị phân hủy…

NGŨ GIÁC (Submodalities)
Khi bảo: “Hãy nghĩ đến con chó …”. Mỗi người sẽ có hình ảnh khác nhau trong đầu, tùy theo kinh nghiệm trước đó. Người thì nghĩ đến một chú chó cún dễ thương, người lại nghĩ đến một con chó dữ dằn đang rượt đuổi theo mình. Con chó màu gì vậy? Sự tưởng tượng và phản ứng của ta tùy thuộc vào chúng ta thấy hình ảnh đó đầy màu sắc hay chỉ trắng đen. Hãy tăng màu sắc lên, phản ứng thay đổi thế nào? Đẩy hình ảnh ra xa, phản ứng thay đổi thế nào?

KHUÔN MẪU GIẢN LƯỢC (Meta-Model)
Khuông mẫu giản lược là khuôn mẫu của một khuôn mẫu khác được giản lược hơn. Một bảng câu hỏi được thiết lập nhằm tìm hiểu ý nghĩa rõ ràng trong giao tế của đối tượng. Nhà trị liệu hoàn toàn không tác động đến cách giao tế của đối tượng mà chỉ đặt câu hỏi xem đối tượng nghĩ gì trong đầu. Thí dụ:

Đối tượng: Tôi thấy mệt mỏi quá
Nhà trị liệu: Điều gì khiến cho bạn mệt mỏi?
Đối tượng: Anh ấy cứ chế nhạo chê cười tôi.
Nhà trị liệu: Anh ấy là ai?
Đối tượng: Cái anh hàng xóm ấy.
Nhà trị liệu: Tại sao anh ấy chế nhạo chê cười bạn?
Đối tượng: Tính anh ấy là vậy.

Nhả trị liệu biết rằng đối tượng không hề mệt mỏi về thể chất mà về tinh thần. Ông để ý đến âm thanh, cách nói, giọng nói … của đối tượng để thực sự hiểu được cách giao tiếp.

ÁNH MẮT (Sensory acuity)
Nhìn một người ta có thể đoán được tâm trạng họ thế nào, vui hay buồn, suy nghĩ gì trong đầu. Có người rất giỏi dấu tâm trạng của mình, mặt ‘lạnh như tiền’, không biểu lộ cảm xúc.

Tư tưởng thường thể hiện ra bên ngoài. Một con chó có thể đánh hơi sự sợ sệt của chủ. Chúng ta biết tâm trạng một người qua cử chỉ, điệu bộ: co vai, rút cổ, cúi mặt, nhìn xuống đất, điệu bộ cứng đơ v.v.